Lễ phát động chương trình hành động thực hiện chiến lược phát triển năm học 2008-2009

Thứ ba - 10/05/2016 07:26


Cách đây vừa tròn 2 năm, Trường Đại học Thuỷ lợi long trọng tuyên bố Triển khai thực hiện Chiến lược phát triển Trường giai đoạn 2006-2020. Ngày 6/8/2008, Nhà trường tổ chức buổi lễ sơ kết nhìn lại 2 năm thực hiện Chiến lược, đồng thời phát động chương trình trong năm học 2008 – 2009, năm học toàn trường thi đua lập thành tích hướng tới kỷ niệm 50 năm thành lập trường Đại học Thuỷ lợi.
Đến dự có: Đoàn đại biểu Bộ NN & PTNT do Thứ trưởng GS.TS Đào Xuân Học dẫn đầu, các đại biểu nguyên là lãnh đạo nhà trường qua nhiều thời kì, các đại biểu trong Đảng uỷ, Ban giám hiệu, các Phòng Khoa ban Trung tâm… trong toàn trường và đại diện sinh viên các lớp.
Chiến lược phát triển trường Đại học thủy lợi giai đoạn 2006 – 2020 ra đời là niềm tự hào của cán bộ, giáo viên CNV và sinh viên trong toàn trường với mục tiêu và sứ mệnh cao cả: Đổi mới cơ bản và toàn diện đảm bảo mang lại cho cán bộ và giảng viên trong nhà trường một môi trường thuận lợi, có thể phát huy toàn bộ năng lực và trí tuệ của mình cho sự nghiệp đào tạo và phát triển Thủy lợi, tạo cho sinh viên môi trường học tập và nghiên cứu khang trang hiện đại, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng với những kiến thức tiên tiến hiện đại và các kỹ năng cần thiết để tiến thân, lập nghiệp và sáng nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Phấn đấu trở thành một trong 10 trường đại học hàng đầu của Việt Nam đào tạo nguồn nhân lực và nghiên cứu khoa học chất lượng cao. Tạo dựng được thương hiệu “Đại học Thủy lợi Việt Nam ” có uy tín, quan hệ quốc tế rộng rãi đa phương, đa dạng đủ sức cạnh tranh, hợp tác bình đẳng với các nước trong khu vực cũng như trên thế giới và chủ động hội nhập.
Bản chiến lược hoàn thành phù hợp hoàn cảnh đất nước ta đang trong quá trình đẩy mạnh CNH-HĐH trong đó sự nghiệp giáo dục đào tạo đã được Đảng và Nhà nước là quốc sách hàng đầu, xây dựng đất nước đi đôi với hội nhập quốc tế.Toàn thể cán bộ giảng viên CNV đều nhận thức rằng, đổi mới là tất yếu, yêu cầu không chỉ xuất phát từ thực tiễn của nhà trường mà còn yêu cầu của xã hội.
 Buổi lễ vinh dự được đón tiếp và nghe Thứ trưởng Bộ NN&PTNT- GS.TS Đào Xuân Học - kiến trúc sư trưởng xây dựng nên bản chiến lược căn dặn nhiều vấn đề về tầm quan trọng và nâng cao chất lượng giảng dạy học tập của trường Đại học Thuỷ lợi hiện nay, Thứ trưởng khẳng định cơ hội đối với nhà trường rất lớn nhưng thách thức cũng rất nhiều, đòi hỏi những nỗ lực và cố gắng chung trong toàn trường để hoàn thành và hoàn thành đồng bộ Chiến lược. Về phía Bộ, lãnh đạo Bộ nhấn mạnh luôn luôn quan tâm tạo điều kiện ủng hộ Nhà trường  mọi hoạt động trong quá trình phát triển.
Hai năm qua, những thành quả đã đạt được của tập thể giảng viên, cán bộ công nhân viên và sinh viên trường ta là rất đáng trân trọng, Chiến lược phát triển không chỉ tạo được sự đồng thuận cao trong nhà trường mà còn làm nên những chuyển biến tích cực trong tư duy, trong nhận thức và hành động, khích lệ nhân tố mới, chứng tỏ sự chuyển mình rõ rệt trong bối cánh đổi mới giáo dục đại học nói riêng và giáo dục nói chung.
Chiến lược thành công chỉ khi tất cả các thành viên trong nhà trường thực sự đồng lòng, coi việc tham gia chiến lược không chỉ là trách nhiệm mà còn là vinh dự của mỗi người. Khi đó nội lực của nhà trường mới được phát huy mạnh mẽ và có ảnh hưởng sâu sắc.
 Các Đoàn thể trong trường cũng đã phát biểu hưởng ứng đợt thi đua thực hiện kế hoạch chiến lược, kêu gọi các cá nhân và tập thể phát huy năng lực bản thân, đoàn kết, tích cực, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm học, xây dựng trường vững mạnh, nâng cao vị thế Nhà trường, khẳng định là một trường đầu ngành của Việt Nam và trong khu vực.
Qua 2 năm chung sức triển khai chiến lược, chúng ta đã đạt được những thành công nhất đinh, tuy nhiên những khó khăn cũng còn không ít.Nhưng với sự đồng lòng quyết tâm của toàn trường, chiến lược nhất định sẽ thành công. Chào mừng những thành công mà Nhà trường đã đạt được, với tình cảm tin tưởng và quyết tâm trên con đường đổi mới, chúc kế hoạch chiến lược năm học 2008 – 2009 sẽ được hoàn thành thắng lợi!
Báo cáo 2 năm thực hiện chiến lược và phát động thi đua trong năm học 2008-2009 PGS.TS Nguyễn Quang Kim - Hiệu trưởng nhà trường trình bày tại hội nghị:

BÁO CÁO 

 2 NĂM THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN TRƯỜNG ĐH THUỶ LỢI
(Từ 6/2006 đến 7/2008)
 
Chiến lược PT Trường ĐH Thuỷ lợi, được Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp & PTNT phê duyệt ngày 15 tháng 6 năm 2006, tại Quyết định số 1745/QĐ-BNN-TCCB. Ngay sau khi Chiến lược được phê duyệt, toàn thể ĐU, BGH, cán bộ các Phòng, Khoa, Ban, giảng viên và sinh viên trong trường đã nhanh chóng bắt tay triển khai thực hiện Chiến lược. Qua 2 năm thực hiện, Nhà trường thu được những thành quả bước đầu và gặp phải những khó khăn sau đây: 
 
Phần I Những thành tích triển khai thực hiện CLPT trong 2 năm (2006-2008)
1. Chiến lược phát triển đào tạo
- Đã xây dựng thành công 21 ngành đào tạo cho bậc đại học. Trong đó, có 9 ngành nâng cấp và 13 ngành mở mới (vượt so với chiến lược đề ra 5 ngành), đã có 17 ngành được Bộ GD&ĐT phê duyệt, trong đó có chương trình tiên tiến-dạy bằng tiếng Anh và đưa vào đào tạo trong năm học 2008-2009 (sớm hơn so với chiến lược 2 năm).
- Hội đồng KH & ĐT cấp Khoa và cấp Trường đã xây dựng và thông qua 18 chương trình đào tạo thạc sỹ của 18 ngành, 13 chương trình đào tạo tiến sỹ, 2 chương trình đào tạo hệ Cao đẳng và 2 chương trình liên thông của Cao Đẳng lên Đại học. 
- Năm thứ 2 tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ, rút ngắn thời gian đào tạo từ 5 năm xuống còn 4 năm, thời lượng đào tạo rút từ 270 ĐVHT xuống còn 146-150 tín chỉ (thực hiện sớm hơn 1 năm so với chiến lược).
- Đã mua được 945 cuốn sách (305 cuốn giáo trình và 640 tài liệu tham khảo). Hiện vẫn còn 226 cuốn sách chưa mua được (62 sách giáo trình và 164 tài lệu tham khảo) .
- Đã dịch, biên soạn và in 17 giáo trình (37.100 cuốn) phục vụ cho chương trình đào tạo mới. Trong năm học 2008-2009, theo kế hoạch sẽ biên dịch và in ấn 33 giáo trình. Nhìn chung, Giáo trình và tài liệu phục vụ giảng dạy, học tập được  đáp ứng tiến độ đào tạo theo chương trình mới.
- Tổng kinh phí mua , dịch, biên tập, in ấn trong 1 năm qua là: 4.364 triệu đồng, lượng kinh phí này sẽ lớn hơn rất nhiều trong các năm học tiếp sau. 
Nhà trường đã nhận được 137 triệu đồng và 170 USA, 16 đầu sách ủng hộ của 130 cá nhân và 15 dơn vị trong và ngoài trường.  Nhà trường đã vết hơn 140 lá thư cảm ơn, ghi nhận những đóng góp của các cá nhân, tập thể lên trang Web, và xem đây là bài học truyền thống tốt đẹp của các thế hệ Cựu SV trường ĐHTL .
- Năm 2008, quy mô tuyển sinh chung của các hệ đào tạo là 3302 sinh viên (tăng 10% so với chiến lược).
- Nhà trường cùng công ty CMC phối hợp xây dựng phần mềm quản lý và lên kế hoạch đào tạo theo học chế tín chỉ đã bắt đầu áp dụng trong 1 năm qua. Phần mềm đã hỗ trợ tốt trong lập kế hoạch và quản lý đào tạo. Đặc biệt là phần mền đã hỗ trợ sinh viên có nhiều cơ hội và chủ động trong lựa chọn kế hoạch học tập thích hợp cho từng sinh viên,  trong mỗi kỳ học.
- Nhà trường đã tổ chức 3 Hội nghị toàn thể cho cán bộ và giảng viên của trường nghe trao đổi kinh nghiệm về đào tạo theo học chế tín chỉ, Hội nghị về đào tạo đại học của Hoa kỳ, Hội nghị trao đổi về phương pháp dạy - học tích cực, trao đổi về cách cho điểm quá trình môn học.
- Nhà trường cũng đã tổ chức một đoàn công tác cho các trưởng bộ môn của khoa Công nghệ Thông tin và các bộ môn toán, lý, hóa sang Sigapore để trao đổi và học tập thêm kinh nghiệm của trường bạn.
      - Ngày 29/11/2007, Bộ GD&ĐT đã ra quyết định về việc giao nhiệm vụ đào tạo Chương trình tiên tiến ngành Kỹ thuật tài nguyên nước trình độ đại học cho trường ĐHTL. Nhà trường đã thành lập Ban chỉ đạo triển khai thực hiện và cử một đoàn công tác sang Mỹ trao đổi hợp tác đào tạo với trường Colorado State University và Ankansas (đã ký MOU). Đến nay, đã xây dựng xong khung chương trình, đề cương chi tiết cho từng môn học (song ngữ), danh mục giáo trình, tài liệu tham khảo, kế hoạch thực hiện và giảng viên tham gia. Chuẩn bị mở lớp bồi dưỡng tiếng Anh cho Giảng viên, các cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ giảng dạy cũng đang được chuẩn bị để đón Sinh viên khoá 50 nhập học. Các hoạt động mời giảng viên nước ngoài tham gia giảng dạy và các thủ tục quyết toán tài chính với Bộ GD&ĐT đang được thực hiện đúng kế hoạch.
   
2. Chiến lược phát triển KHCN
Phát triển nghiên cứu KHCN trong CLPT được xem là nhiệm vụ trung tâm của Nhà trường. Trong năm qua, chúng ta đã thành lập được 3 viện thuộc trường: Viện Thủy lợi và Môi trường ở CS2, tp HCM; Viện Kỹ thuật Tài nguyên nước; Viện Khoa học Công trình tại HN, cả 3 Viện đã bắt đầu đi vào hoạt động tốt.
 - Trong 2 năm qua, Nhà trường đã tham gia tuyển chọn và đã được giao chủ trì 7 đề tài khoa học cấp Nhà nước, 19 đề tài KH cấp Bộ, 50 đề tài cấp Cơ sở với tổng kinh phí đề tài là 3.880 triệu đồng. Các đề tài nghiên cứu tập trung vào chương trình Bảo vệ bờ sông ven biển miền Trung; Đánh giá nguồn nước Quốc gia. Trường đã triển khai chương trình nghiên cứu đê biển quốc gia và chủ trì 2 đề tài NCKH; tham gia điều phối và thực hiện dự án WRAP.
- Đang triển khai xây dựng ngân hàng dữ liệu về tài nguyên nước tại trường ĐHTL và Cơ sở 2, tp HCM để phục vụ công tác NCKH,  đào tạo trước mắt cũng như lâu dài. Bước đầu tập hợp các thông tin phục vụ nhiệm vụ lập các nhóm KHCN mũi nhọn của các ngành trong trường như Chiến lược phát triển đã đề ra.
- Xây dựng xong dự thảo về Quy định tài chính của các hoạt động KHCN trong Trường. Quy chế quản lý đề tài, dự án khoa học công nghệ; Quy chế đăng ký, lưu giữ và sử dụng kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ được cập nhật trên trang Web của truờng để hỗ trợ các hoạt động NCKH, phục vụ sản xuất, đào tạo của Nhà trường. 
- Trong năm học qua Cty tư vấn và chuyển giao công nghệ, các Trung tâm KH, Văn phòng tư vấn của trường cũng đã nỗ lực hoạt động triển khai ứng dụng KHCN vào sản xuất ở các địa bàn trên cả nước, ngày càng khẳng định vị thế và thương hiệu của trường. Trong 2 năm 2006 - 2008, tổng doanh thu của Công ty tư vấn, các Trung tâm, Văn phòng tư vấn là 142 tỉ đồng, đóng góp vào quỹ Trường là 8,1 tỉ đồng. Đây là nguồn kinh phí không nhỏ để góp phần đầu tư cho đào tạo, nâng cao thu nhập của cán bộ, công nhân viên và Giảng viên trong toàn trường. 
 
3. Chiến lược phát triển nguồn nhân lực
      - Nhà trường đã ra Quy chế về tổ chức và hoạt động của trường ĐH Thuỷ lợi (đang trình Bộ phê duyệt), đã thành lập và ra Quy chế về tổ chức và hoạt động của Hội đồng trường. Kiện toàn tổ chức các khoa, đổi tên khoa, lấy ý kiến các ngành đào tạo cho từng Khoa, thành lập 1 Khoa mới là khoa Kỹ thuật môi trường và 1 bộ môn mới là BM Phát triển kỹ năng. Kiện toàn, sắp xếp hoặc thành lập lại các Bộ môn, phòng thí nghiệm.
      - Thành lập mới 3 viện thuộc trường và ra các quy định về tổ chức và hoạt động của các viện ; Thành lập trung tâm ngoại ngữ từ Ban ngoại ngữ trước đây, đang triển khai thực hiện sơ đồ tổ chức trường theo Chiến lược phát triển. Thành lập mới 2 phòng là phòng Hợp tác Quốc tế và Phòng Khảo thí & Kiểm định Chất lượng. Giải thể Trung tâm Dịch vụ và đời sống.
      - Nhà trường đã ra QĐ số 1154 ngày 16 tháng 10 năm 2006 về việc Ban hành Chức năng nhiệm vụ của các phòng, ban quản lý trong trường. Đã xây dựng xong và lấy ý kiến rộng rãi : Quy định về tiêu chuẩn, nhiệm vụ, yêu cầu của các ngạch bậc viên chức. Quy định về tiêu chuẩn, nhiệm vụ, yêu cầu của các chức danh cán bộ quản lý các cấp để Nhà trường phê duyệt và ban hành.
      Nhờ làm tốt công tác tổ chức cán bộ, triển khai tích cực chiến lược phát triển trường, trong 2 năm qua Nhà trường đã tuyển dụng thêm được 90 biên chế. Trong đó, giảng viên là 61 nguời (68%), thêm 9 TS và 28 ThS  để bổ sung nhanh nguồn nhân lực có trình độ cao của Trường.
      Hiện nay, tổng số cán bộ giảng dạy trong trường là 395 người (thiếu 130 giảng viên so với CL). Trong đó, có 22,1% có trình độ tiến sĩ; 42,4% có trình độ thạc sĩ; 35,5% có trình độ đại học.
                 
4. Chiến lược phát triển cơ sở vật chất
      - Nhà trường đã tổ chức thi tuyển chọn 4 phương án của 4 công ty thiết kế mở rộng trường tại Hà tây và triển khai Quy hoạch chi tiết. Ngày 31/7/2007 tại huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây, Nhà trường và Công ty tư vấn quy hoạch, UBND tỉnh Hà Tây, Bộ NN&PTNT đã long trọng tổ chức lễ Công bố QĐ phê duyệt QH chi tiết xây dựng mở rộng trường theo tỉ lệ 1/500 của UBND tỉnh Hà Tây.
      + Tháng 9/2007 hoàn thành việc lập dự án giai đoạn I và trình Bộ Nông nghiệp & PTNT thẩm định và phê duyệt dự án.
      + Tháng 3/2008 thiết kế cơ sở của dự án giai đoạn I đã được Bộ Xây dựng thẩm định.
      + Tháng 7/2008, Trường trình Bộ dự án giai đoạn I, với tổng mức đầu tư điều chỉnh theo chỉ đạo của Bộ (lần thứ 4) để xem xét thẩm định (chậm so với chiến lược là 1 năm).
      - Tại Bình dương, Nhà trường đã hoàn thành dự án xây dựng Cơ sở 2, giai đoạn 2. Bắt đầu từ năm học này toàn bộ Cơ sở 2 đã được xây dựng khang trang để phục vụ nhiệm vụ của Trường ở khu vực phía Nam.
- Tại Hà Nội, Nhà thi đấu đa năng đã được khánh thành và đưa vào sử dụng, Dự án A45 đã triển khai phá rỡ giải phóng mặt bằng, khoan nhồi để khởi công xây dựng khu KTX 11 tầng.
- Xây dựng cơ sở thực tập cho sinh viên tại công trình Cửa Đạt – Thanh Hoá, đảm bảo điều kiện sống và học tập của sinh viên..
- Thư viện trường đã hoàn thành đề án hiện đại hoá, tin học hoá thư viện theo đúng kế hoạch đề ra. Nhờ ứng dụng phần mềm Libol và các phương tiện hỗ trợ phục vụ sinh viên mượn/trả sách, xử lý nghiệp vụ bằng dán tem mã vạch... Các hoạt động của thư viện đã được kiểm soát bằng phần mềm và các thiết bị hỗ trợ. Cán bộ thư viện được đào tạo chuyên môn ngoại ngữ để làm chủ các khâu hiện đại hoá và tin học hoá.
 - Khu KTX cao học đã được nâng cấp khang trang, trong đó có 16 phòng ở hiện đại sẵn sàng phục vụ các chuyên gia đến công tác và làm việc lâu dài tại trường. Nhà trường đã tiến hành nâng cấp 46 giảng đường 70SV và 4 giảng đường 150SV, đưa thêm 2 hội trường lớn vào phục vụ đào tạo, đã phần nào làm bớt đi tình trạng căng thẳng về giảng đường trong năm học tới.
- Các Bộ môn, Khoa, Ban, thư viện được lắp đặt máy điều hòa nhiệt độ, các giảng viên được hỗ trợ 10 triệu đồng mua máy tính sách tay. Toàn thể cán bộ ở các phòng ban được lắp máy tính màn hình tinh thể lỏng, các hội trường, phòng học được lắp đặt màn hình phục vụ giảng dạy, cơ sở vật chất của trường ngày càng được quan tâm đầu tư để tạo điều kiện tốt nhất có thể, cho cán bộ, giáo viên và sinh viên có điều kiện làm việc, giảng dạy và học tập ngày càng tốt hơn.
      - Các gói thầu cung cấp thiết bị, nâng cấp thiết bị cho phòng thí nghiệm Địa kỹ thuật, Trung tâm ngoại ngữ, phòng thí nghiệm thủy lực cũng đang được triển khai thực hiện, lắp đặt và  hệ thống mạng trong toàn trường đã được tiến hành nâng cấp.
 
5. Chiến lược phát triển nguồn tài chính và tiền lương
Tăng cường các nguồn thu từ hoạt động đào tạo như tăng chỉ tiêu đào tạo hệ chính quy, tại chức theo đúng lộ trình đã đề ra trong chiến lược phát triển, đồng thời tăng cường mở các lớp chuyên đề ngắn hạn sau đại học, giám sát thi công, bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học, hội thảo KH với các tổ chức trong và ngoài nước để đa dạng hóa các nguồn thu từ công tác đào tạo, NCKH.
- Tăng nguồn thu từ các hợp đồng khai thác cơ sở vật chất của Nhà trường như sân vận động, nhà thi đấu, bể bơi, sân tenít, hội trường, phòng học, ký túc xá…
- Tăng cường các nguồn thu từ hoạt động NC KHCN, các hợp đồng tư vấn, khảo sát thiết kế, thi công, tin học, ngoại ngữ…trong năm qua là 8,1 tỉ đồng, Nhà trường đã trích một tỉ lệ thích hợp nguồn thu này để hỗ trợ lương cho cán bộ, giáo viên trong trường.  
- Bên cạnh đó, Nhà trường cũng đã xây dựng xong Quy định về mức lương theo các chức danh, ngạch, bậc viên chức và cơ chế tăng giảm lương. Quy định về sử dụng quà tặng từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.
- Đang xây dựng và hoàn chỉnh Quy định thu từ hoạt động KHCN và Phục vụ SX; Quy định thu từ hoạt động dịch vụ, phục vụ; Quy định thu từ hoạt động liên kết và hợp tác quốc tế; Quy định thu từ hoạt động chuyên gia, cố vấn... trong và ngoài nước.
 
6. Chiến lược về hợp tác quốc tế
Hai năm qua là 2 năm các hoạt động hợp tác quốc tế diễn ra nhộn nhịp và thường xuyên trên mọi lĩnh vực công tác của Nhà trường. Nhà trường đã hoàn thành hồ sơ ra nhập mạng lưới hợp tác các trường quốc tế đào tạo về Nước của Viện UNESCO – IHE, Hà Lan.
- Hoàn thành các thủ tục, hồ sơ cần thiết cho dự án vốn vay ADB phát triển cơ sở vật chất của trường như: Đề cương hỗ trợ kỹ thuật cho dự án và trình Chính phủ phê duyệt; Hoàn thành nội dung và khung giám sát dự án, ký kết MOU hỗ trợ kỹ thuật cho dự án giữa Bộ Nông nghiệp & PTNT và ADB. Hiện nay, đã nộp đề xuất xin viện trợ Quỹ JSF của Chính phủ Nhật Bản để triển khai PPTA.
      - Tổ chức sang thăm và làm việc với 5 trường ĐH của Nhật Bản về hợp tác đào tạo, NCKH, đã ký kết các văn bản ghi nhớ về hợp tác song phương, lâu dài. Cử các đoàn đi Tây Ban Nha, Thuỵ Điển, đan Mạch, Đức, Pháp, Nhật, Hà Lan... để ký kết hợp tác đào tạo, NCKH, soạn giáo trình và xây dựng các phòng thí nghiệm.
      - Đang xúc tiến một dự án do ADB tài trợ “Đánh giá rủi ro thiên tai bằng công nghệ GIS” phối hợp với IHE của Hà Lan, hiện đang quá trình đàm phán với ADB. Một dự án về GIS cũng đang được đề xuất với nhà tài trợ World Bank. Đề xuất 1 dự án về đề tài thay đổi khí hậu, tìm tài trợ của chính phủ Đan mạch.
      - Dự án Hà lan và Đan Mạch giai đoạn 2 đã hỗ trợ trường đào tạo Thạc sỹ và tiến sỹ, 32 cán bộ giảng dạy trẻ được bồi dưỡng về phương pháp giảng dạy và phần mềm kỹ thuật. Hộ trợ biên soạn 7 giáo trình mới, trang bị sách cho ngành Kỹ thuật biển, khung chương trình cho các môn học phát triển kỹ năng. Mua một số phần mềm chuyên dụng phục vụ NCKH và đào tạo của Trường.    
- Nhà trường đã chủ động phối hợp với cchính phủ Hà Lan trong chương trình nghiên cứu đê biển đã bước sang giai đoạn trao đổi chuyên môn. Xúc tiến xây dựng dự án Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu vùng đồng bằng Bắc bộ theo nghị định thư với Đan Mạch, xây dựng dự án giảm nhẹ thiên tai tại một số tỉnh miền trung sử dụng GIS - viễn thám với Trung tâm PDC-đại học Hawaii, Mỹ. Hàng năm tổ chức 2-3 hội thảo quốc tế ở trường.
- Trường đã mời 1 chuyên gia tình nguyện của Canada và sẽ đón 2 giáo viên tình nguyện người Mỹ sang giúp trường nâng cao năng lực ngoại ngữ của Trung tâm ngoại ngữ, cho cán bộ và giáo viên trong trường. Sẽ mời một chuyên gia người Sigapore từ NTU sang để hỗ trợ giảng dạy các môn phát triển kỹ năng.
- Trường đã ký kết MOU với các trường: Đại học Sarawax (Malaysia); đại học Tohoku (Nhật Bản); đại học Quốc gia (Lào); đại học Hawaii, đại học Colorado, đại học Ankasas Mỹ và tổ chức ICEWARM của Úc. Đã gửi đi đào tạo 17 thạc sỹ, 32 tiến sỹ và 2 sau tiến sỹ ở nước ngoài. Hiện đang đào tạo 17 lưu học sinh Lào và Căm Phu Chia, tiếp nhận 8 sinh viên cao học của Hà Lan đến thực tập ở trường. Bắt đầu hoạt động trao đổi sinh viên thực tập với trường NTU của Singapore.
Trong 2 năm qua, đã có gần 100 đoàn khách quốc tế đến thăm và làm việc với trường. Hợp tác quốc tế đang thực sự trở thành cầu nối đưa trường ta bước vào hội nhập với khu vực và quốc tế như chiến lược PT trường đã đề ra.
 
7. Chiến lược Công nghệ thông tin
      - Nhà trường đã tự xây dựng các Website, thực hiện nhanh, cập nhật, nâng cấp hệ thống website của Nhà trường và cho ra mắt trang tin điện tử phục vụ các hoạt động trong trường và làm nhiệm vụ quảng bá hình ảnh Trường vào ngày 15-3-2007.
      - Cấp toàn bộ email cho sinh viên đang theo học ở trường với 7150 tài khoản email với tên miền @wru.vn cho 118 lớp chính quy và tại chức. Đồng thời, ban hành Quy định tạm thời về việc trao đổi thông tin giữa Nhà trường với sinh viên qua hệ thống thư điện tử (sớm hơn so với CL là 1 năm).
      - Phối hợp với công ty CMC xây dựng và đưa vào sử dụng phần mềm quản lý đào tạo đại học và sau đại học, quản lý sinh viên, quản lý cán bộ, cổng thông tin đào tạo (sớm hơn so với CL là 1 năm). Phần mềm là bước đổi mới quan trọng trong cho công tác quản lý của Nhà trường, hỗ trợ sinh viên chủ động tham gia lập kế hoạch đào tạo, quản lý điểm, thi và quản lý học bổng... phát triển hệ thống diễn đàn trao đổi trực tuyến giữa cán bộ, giảng viên và sinh viên trong trường đây là bước đột phá trong thực hiện chủ trương dân chủ hóa học đường của trường ta.
      - Thực hiện xong website đưa bài giảng trực tuyến lên mạng, đảm bảo các tính năng kỹ thuật, trong năm học tới các Bộ môn cần phối hợp với Trung tâm tin học để đầu tư xây dựng các bài giảng điện tử để làm phong phú nội dung của trang website này (chậm so với CL vì trong 2 năm qua các Bộ môn phải tập trung dịch và biên soạn giáo trình). Thư viện điện tử và E-Learning chưa được đầu tư đồng bộ và hiện đại hoá, mặc dù đã có hệ thống E-learning cho phép giảng viên đưa bài giảng lên mạng phục vụ đào tạo theo tín chỉ và gửi bài giảng điện tử cho sinh viên tham khảo nhưng chưa đáp ứng được các chuẩn yêu cầu đào tạo từ xa. 
- Nhà trường đã xây dựng hệ thống mạng không dây (Wireless) tại các khu làm việc để tăng khả năng đáp ứng truy cập mạng, mọi lúc, mọi nơi trong trường. Công nghệ thông tin của trường hiện nay không chỉ đáp ứng công tác đào tạo của Khoa CNTT, các lớp dự án của Bộ, dự án Hà Lan, Đan Mạch, học tập và nghiên cứu của SV tại Thư viện… đến nay CNTT đã trở thành công cụ tiện ích nhất trong mọi hoạt động của Trường.
- Nhà trường đã hỗ trợ 323 máy tính sách tay cho giảng viên và cán bộ để phục vụ công tác đổi mới phương pháp giảng dạy, công tác quản lý đào tạo và nghiên cứu khoa học, khai thác nguồn thông tin trên mạng.
- Hoạt động CNTT của trường cũng đã tham gia vào dự án Ứng dụng CNTT hiện đại hóa NN & PTNT giai đoạn I, và đã được Bộ giao chủ trì thực hiện dự án “Đào tạo nhân lực CNTT cho Bộ Nông nghiệp&PTNT” với số vốn là 4 tỉ đồng.
                 
8. Công tác sinh viên
- Nhà trường đã tổ chức 10 buổi Báo cáo Chiến lược PT trường đến toàn thể sinh viên trong Trường. Lần đầu tiên Nhà trường tổ chức Hội nghị cựu sinh viên trường ĐHTL, và đang triển khai tổ chức thành lập Hội cựu sinh viên các Tỉnh, ngành trong cả nước.
Hội chợ xúc tiến việc làm lần thứ nhất và lần thứ 2 đã được tổ chức cho sinh viên khóa 44, khoá 45 trước khi ra trường, hoạt động này đã được các đơn vị, tổ chức tiếp nhận và đặc biệt là SV rất phấn khởi, đồng tình ủng hộ và đánh giá cao sự quan tâm, chu đáo của Nhà trường.
- Tổ chức quảng bá Chiến lược PT trường dưới nhiều hình thức: đưa lên trang Web, tài liệu giới thiệu trường, cử các đoàn giáo viên và sinh viên tiếp súc với các trường cấp 3 ở nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước và thông qua hoạt động của các Hội sinh viên. Lập quỹ khuyến học dành cho sinh viên đến nay đã có khoảng 250 triệu đồng.
- Tổ chức các hoạt động nghiên cứu KH trong sinh viên hàng năm, tổ chức các câu lạc bộ cho SV, bồi dưỡng và lập các đội tuyển tham dự các kỳ thi olimpic toán, cơ học toàn quốc, thi Robicom, tham dự giải sáng tạo kỹ thuật Việt Nam VIFOTEC do bộ GD&ĐT tổ chức; giải đồ án tốt nghiệp xuất sắc (giải Loa Thành) của Hội Xây dựng Việt Nam, bồi dưỡng và cử SV tham gia tuyển chọn SV tham dự Hội nghị kỹ thuật xây dựng Châu á lần thứ 4 tại Đài Loan,  tham gia Hội nghị KHCN tuổi trẻ các trường ĐH & CĐ khối Nông-Lâm-Ngư…
- Tổ chức cho sinh viên tham dự các cuộc thi “Rung chuông vàng”, giải bóng đá giành cho SV, tham dự cuộc chơi “các nốt nhạc xanh”, hội thi văn nghệ của ngành ... sinh viên luôn hào hứng tham gia các hoạt động này.
- Xây dựng Quy trình công tác sinh viên, phối hợp xây dựng phần mền quản lý sinh viên, tập huấn đội ngũ cố vấn học tập, phát hành sổ tay sinh viên, niên giám khoá học...  
 
9. Kiểm định chất lượng trường
      Nhà trường đã thành lập phòng Khảo thí và nằm trong danh sách 22 trường được Bộ GD&ĐT tiến hành đánh giá chất lượng trường vào năm 2007. Nhà trường đã thành lập Ban chỉ đạo và Ban thư ký, các tiểu Ban triển khai thực hiện công tác tự đánh giá theo 10 Tiêu chuẩn và 53 tiêu chí. Đến nay, Nhà trường đã hoàn thành báo cáo tự đánh giá và tháng 9/2008 Bộ GD&ĐT sẽ cử đoàn công tác đánh giá ngoài đến thẩm định báo cáo tự đánh giá của Trường (đúng tiến độ).
- Tổ chức phổ biến công tác kiểm định chất lượng giáo dục cho toàn thể sinh viên của Trường. Tổ chức lấy ý kiến phản hồi của sinh viên của trên 40 giảng viên dạy 13 môn học thuộc 13 Bộ môn của tất cả 9 Khoa.
      - Nhà trường đã ra Quy định tạm thời về việc: Xây dựng, quản lý và sử dụng ngân hàng đề thi phục vụ thi học kỳ các môn học theo học chế tín chỉ. Đã đầu tư trang thiết bị và phần mền nhận dạng và chấm bài thi trắc nghiệm khách quan, máy quét phiếu trả lời trắc nghiệm và sẽ đưa vào phục vụ trong năm học 2008-2009.
       Các hoạt động xây dựng ngân hàng đề thi, thi trắc nghiệm khách quan và phương pháp đánh giá điểm quá trình, điểm kết thúc môn học… đang được vận dụng và triển khai ở cấp bộ môn để dần tiến tới thống nhất rút kinh nghiệm trước khi thực hiện cho toàn trường. Chiến lược kiểm định chất lượng trường đang được triển khai tốt, đúng kế hoạch Chiến lược.
 
Phần II Những khó khăn và giải pháp để  triển khai thực hiện thắng lợi CLPT Trường. 
 
1.Những khó khăn qua 2 năm triển khai thực hiện chiến lược
a. Những khó khăn khách quan:
- Các chỉ tiêu về cơ sở vật chất phục vụ đào tạo của Nhà trường năm 2008, với 12625 sinh viên là: diện tích phòng học: 0,7m2; thư viện: 0,2m2; ký túc xá 1,2m2; giáo dục thể chất 1,1m2 ...cho 1 sinh viên Nếu so sánh với tiêu chuẩn Việt Nam 20TC-1985 thì diện tích khuôn viên trường mới đạt 27%, lớp học đạt 83%, ký túc xá đạt 27%; thư viện đạt 24% về diện tích và 40% về đầu sách. Ngoài ra, trường còn chưa có phòng học lớn phục vụ giảng dạy ghép lớp và chia nhóm. Nơi làm việc cho giảng viên chưa đủ, thiết bị thí nghiệm hầu hết lạc hậu thuộc trình độ công nghệ của những năm 60-70 thế kỷ trước.
- Dự án ký túc xá sinh viên 11 tẩng (A45) và dự án mở rộng trường tại Hà Tây chậm so với tiến độ đề ra trong chiến lược là 1 năm. Nếu đến năm 2010, các dự án này chưa được đưa vào khai thác từng phần thì sự hụt hẫng về cơ sở vật chất sẽ trở thành một rủi ro lớn trong Chiến lược phát triển Trường.  
Thiếu giảng viên so với quy mô đào tạo tăng nhanh của Trường. Hiện tại, tỉ lệ giảng viên trên số sinh viên là 1/25, trong khi mức phấn đấu là 1GV/15SV. Chỉ tiêu biên chế được Bộ phân hàng năm mới chỉ đáp ứng trên 31% nguồn nhân lực giảng dạy theo yêu cầu của chiến lược đề ra.
- Tỉ lệ cán bộ có trình độ cao bị giảm sút so với 5 năm trước đây, đặc biệt là hẫng hụt cán bộ đầu đàn. Tính đến năm 2008, so với quy mô đào tạo và yêu cầu của CL thì số giảng viên có trình độ tiến sĩ còn thiếu 33 người, thạc sỹ là 58 người, đội ngũ công chức của trường chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ về cơ cấu, thành phần, độ tuổi, nguời có trình độ chuyên môn sâu về khoa học cơ bản, thí nghiệm và một số lĩnh vực chuyên môn mũi nhọn.
-  Chính sách lương và định mức lao động hiện hành của Nhà nước còn nặng về tính bình quân và thấp, so với sự dịch chuyển nhanh của nền kinh tế thị trường làm Nhà trường rất khó tuyển dụng được người có học vị cao và trình độ tốt để bổ sung nhanh cho nguồn nhân lực của Trường. Hiện nay, Nhà trường vẫn phải tuyển nhiều sinh viên mới ra trường, vì thế cần mất nhiều thời gian và kinh phí cho khâu đào tạo nhân lực.
- Trong chiến lược phát triển nguồn tài chính dự kiến nguồn thu từ học phí năm 2006 là 14,8 tỉ và 2007 là 21,3 tỉ. Nhưng thực tế, năm 2006 chỉ thu được 12,7 tỉ và năm 2007 là 12,3 tỉ, mức thiếu hụt so với kế hoạch chiến lược là 15% và 42%. Như vậy, nguồn kinh phí dành cho mua sắm thiết bị cho các phòng thí nghiệm bị thiếu hụt nghiêm trọng không đủ đáp ứng trong tình hình hiện nay. 
Nguồn thu chính của trường là kinh phí hành chính sự nghiệp do Bộ cấp và kinh phí thu từ học phí của sinh viên. Cả 2 nguồn thu này đều phụ thuộc vào chế độ, chính sách của Nhà nước, kế hoạch chung của các Bộ, Ngành. Vì thế, khó khăn về nguồn tài chính trong quả trình đổi mới và thực hiện theo Chiến lược là điều khó tránh khỏi.
b. Những khó khăn chủ quan
      - Một số dự báo ngắn hạn về phát triển ngành nghề chưa thật sát với nhu cầu phát triển nguồn nhân lực của xã hội. Các biến động kinh tế của đất nước ở tầm vĩ mô và những tác động nhanh chóng, sâu rộng của nền kinh tế thị trường đến tiến trình thực hiện Chiến lược chưa được tính toán một cách chính xác.
      -  Sự thay đổi nhân sự trong lãnh đạo Nhà trường đã yêu cầu một thời gian chuyển giao và ổn định để phát triển Chiến lược.
- Trong 2 năm triển khai thực hiện Chiến lược, toàn thể cán bộ, giáo viên của Trường đã phát huy cao độ tính tự chủ, tinh thần thắt lưng buộc bụng để thực hiện Chiến lược. Khối lượng công việc bình quân mỗi người tăng từ 30-40%, nhưngthu nhập tăng không đáng kể, trong cơn bão tăng giá hiện nay đã tác động mạnh đến sự quyết tâm, cố gắng của cán bộ, giáo viên trong trường.
2. Những giải pháp để triển khai thực hiện thắng lợi CLPT trường
a. Giải pháp của Nhà trường
      - Nhà trường cần sớm kiện toàn bộ máy tổ chức các đơn vị sao cho tinh gọn, phù hợp với yêu cầu của chiến lược, hội nhập quốc tế cao. Thu gọn các đơn vị quản lý và phục vụ, từng bước chuyển nhanh sang hạch toán từng phần hoặc toàn bộ. Thu gọn đầu mối các phòng quản lý để tăng hiệu quả quản lý và sử dụng lao động.
- Sớm thực hiện việc tăng cường tự chủ, tự hạch toán cho càng nhiều đơn vị càng tốt để tăng hiệu quả làm việc, doanh thu và hiệu quả kinh tế. Xây dựng các văn bản phù hợp có liên quan đến việc xây dựng và phát triển đội ngũ, chất lượng giảng viên và cán bộ trong trường.
- Tiến hành nghiên cứu điều chỉnh một số điểm trong kế hoạch Chiến lược không phù hợp với tình hình hiện nay.
-  Tiếp tục tìm kiếm sự giúp đỡ và hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước ủng hộ sự nghiệp phát triển nguồn nhân lực của Nhà trường.
- Phát huy tinh thần chủ động sáng tạo, nâng cao đạo đức nghề nghiệp để khắc phục khó khăn hoàn thành tốt nhiệm vụ của Chiến lược phát triển Trường.
 
b. Những kiến nghị với Bộ Nông nghiệp và PTNT
      - Ưu  tiên đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng A45 và dự án mở rộng trường tại Chương Mỹ, Hà Tây, kinh phí nâng cấp trang thiết bị của các phòng thí nghiệm theo đúng kế hoạch Chiến lược đã được Bộ trưởng phê duyệt.
      - Bộ điều phối và hỗ trợ tìm kiếm các nhà tài trợ giúp Nhà trường trong các hoạt động nghiên cứu khoa học và các dự án thuộc các lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực, phát triển tài nguyên nước, giảm nhẹ thiên tai, phát triển cộng đồng...
      -  Cho phép Nhà trường được áp dụng thí điểm quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm (theo tinh thần của Điều lệ trường Đại học và Nghị định 43 của Chính phủ cụ thể là:
      + Áp dụng thí điểm về tự chủ biên chế (chỉ tiêu biên chế, thủ tục tuyển chọn, hợp đồng và chấm dứt hợp đồng, thuê người nước ngoài...). Thiết lập hoặc giải thể bộ máy, thủ tục đi nước ngoài...
      + Giao cho Nhà trường cải cách lại hệ thống và cách nâng lương, Nhà trường sẽ xây dựng cơ chế lương riêng để thực sự thu hút người tài và khuyến khích mọi người lao động sáng tạo, tham gia cống hiến cho sự nghiệp phát triển của Nhà trường.
      + Tăng quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm về chương trình đào tạo, ngành nghề và quy mô đào tạo.
      + Ưu tiên các Chương trình, dự án liên quan đến đào tạo nguồn nhân lực của ngành cho Nhà trường. Tạo điều kiện thuận lợi để Nhà trường tham gia liên kết với các Trường và các Tổ chức, Doanh nghiệp... trong và ngoài nước, giảm bớt các thủ tục hành chính.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

balo đi phượt | bà bầu ăn yến | http://votruongtoan.edu.vn | tu dong inox cu

Close